Thực trạng sáng tác, lý luận, phê bình, tiếp nhận văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện nay và đòi hỏi đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

05/03/2016 12:00

 Đời sống văn học, nghệ thuật của mỗi quốc gia, trong từng giai đoạn lịch sử là nhiều yếu tố cấu thành,có diện mạo rất phong phú, đa dạng. Trong bài viết, này chúng tôi đặt vấn đề bao quát xu hướng,đặc điểm chính trong sự vận động và phát triển của văn học, nghệ thuật Việt Nam từ năm 1986 đến nay trong mối quan hệ với phương thức lãnh đạo của Đảng. Như vậy, chúng tôi sẽ không đi vào những vấn đề chi tiết đời sống văn học, nghệ thuật theo hướng kể tả mà đặt trọng tâm xem xét sự vận động, phát triển khách quan của hoạt động văn hoá nghệ thuật hiện đại và những vấn đề đang đặt ra làm cơ sở nghiên cứu sự đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với văn học, nghệ thuật trong giai đoạn tới. Để phù hợp với mục đích và yêu cầu đó, chúng tôi lựa chọn phân tích trên ba bình diện chính yếu là: Sáng tác, biểu diễn , quảng bá văn học, nghệ thuật; lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật; tiếp nhận văn học, nghệ thuật.

          1. Thực trạng sáng tác, biểu diễn, giới thiệu, quảng bá văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện nay

          a. Sau năm 1986, dưới sự lãnh đạo toàn diện của đảng đối với công cuộc đổi mới đât nước, sáng tác văn học nghệ thuât Việt Nam đã có bước phát triển mới ,theo hướng ngày càng phong phú, đa dạng, hiện đại, từng bước hoà nhập với sự phát triển chung của văn học nghệ thuật thế giới.

          Khuynh hướng sáng tác chủ yếu là lành mạnh làm đậm thêm truyền thống yêu nước, nhân văn. Nếu như giai đoạn trước, văn học, nghệ thuật mang âm hưởng sử thi, hướng đến những lý tưởng cao cả, những vấn đề lớn lao của cộng đồng, dân tộc, mà phần nào quên đi những phần khuất tối, những bi kịch cá nhân, thì văn học nghệ thuật sau đổi mới đã từng bước chuyển mình, đến gần hơn với cuộc sống, quan tâm nhiều hơn đến những vấn đề thế sự, đời tư. Sự mở rộng biên độ đề tài, chuyển biến từ cảm hứng sử thi, lãng mạn sang cảm hướng thế sự, đời tư với những điểm nhin mới, đi sâu vào đời sống nội tâm con người mang lại một diện mạo mới, phong phú, đa dạng cho sáng tạo văn học, nghệ thuật. Các tác phẩm văn học, nghệ thuật thời kỳ đổi mới đã góp sức giữ gìn đạo đức xã hội. lên án cái xấu, cái ác, góp phần hoàn thiện nhân cách con người. Hình thức nghệ thuật cũng có nhiều tìm tòi, đổi mới đa dạng, tiếp cận với những thể nghiệm nghệ thuât mới trong các lĩnh vực văn hoc, âm nhạc, điện ảnh, mỹ thuật, sân khấu ... đã mở rộng khả năng chiếm lĩnh thực hiện, bước đầu mang lại những giá trị nghệ thuật mới.

          Việc giới thiệu, quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật cũng đạt được những thành tựu đáng kể. Kể từ sau đổi mới, đã có sự phát triển mạnh mẽ của các phương thức, phương tiện quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật. Hệ thống báo chí, phát thanh, truyền hình phát triển mạnh mẽ, đóng góp vai trò phương thức chuyển tải chính, phát huy khả năng cập nhật hiệu quả các sàn phẩm văn học, nghệ thuật trong và ngoài nước đến công chúng. Các triển lãm mỹ thuật, nhiếp ảnh phát triển mạnh mẽ, làm cho công chúng nghệ thuật dễ dàng tiếp nhận với các tác phẩm. Hoạt động biểu diễn nghệ thuật (ca múa nhạc, sân khấu...) phát triển đa dạng với nhiều phương thức mới. Bên cạnh hoạt động biểu diễn của các đoạn nghệ thuật của Nhà nước con có các hoạt động biểu diễn của các công ty văn hoá tư nhân, sự liên kết , phối hợp của các đơn vị khác nhau ... Hoạt động xuất bản và phát hành sách văn học, nghệ thuật chiếm gần 20% tổng số bản sách xuất bản hàng năm. Đã và đang hình thành, phát triền một thị trường các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật ở nước ta, giúp công chúng dễ dàng tiếp cận và hưởng thụ các giá trị văn học, nghệ thuật

          b. Trong sự chuyển đổi phù hợp với xu hướng khám phá và mang lại những thành tựu mới, cũng đã và đang xuất hiện những biểu hiện cực đoan, lệch lạc trong sáng tác, biểu diễn, quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật.

          Đối với hoạt động sáng tác. Một số văn nghệ sỹ chiều theo thị hiếu tầm thường của một bộ phận công chúng, cho ra đời những sản phẩm không có giá trị tư tưởng và nghệ thuật, thậm chí gây hại cho sự phát triênẻ của đời sống tinh thần xã hội. Đánh giá về những hạn chế trong sáng tác văn học, nghệ thuật, Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị (Khóa X) đã nêu rõ: "Trong sáng tác, biểu diễn, truyền bá các tác phẩm và hoạt động chưa thể hiện được tính chất tiên tiến và bản sắc dân tộc. Số lượng tác phẩm ngày càng nhiều song còn ít tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng nghệ thuật. Trong một số tác phẩm, lý tưởng xã hội - thẩm mỹ không rõ nét, ý nghĩa xã hội còn hạn hẹp. Một số văn nghệ sỹ con hạn chế trong tiếp cận và nhận thức những vấn đề đổi mới của cuộc sống chưa cảm nhận đẩy đủ ý nghĩa, chiếu sâu và tính phức tạp của quá trình chuyển biến mang tính lịch sử trong thời kỳ mới của đất nước. Có biểu hiện xa lánh vấn đề lớn lao của đất nước, chạy theo các đề tài nhỏ nhặt, tầm thường, chiều theo thị hiếu thấp kém của một bộ phận công chúng, hạ thấp chức năng giáo dục, nhấn mạnh một chiều chức năng giải trí. Trong một số trường hợp, có biểu hiện cực đoan, chỉ tập trung tô đậm mặt đen tối, tiêu cực của cuộc sống hiện tại, thậm chí xuyên tạc, bóp méo lich sử hoặc bị các thế lực thù địch lôi kéo, đã sáng tác và truyền bá các tác phẩm độc hại, đi ngược với lợi ích của nhân dân đất nước ... Tình trạng nghiệp dư hoá các hoạt động văn hóa, văn nghệ chuyên nghiệp có chiều hướng tăng lên" đến Nghị quyết 33-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương (Khóa XI) tiếp tục nhận định : "Còn ít những tác phẩm văn học, nghệ thuật,có giá trị cao về tư tưởng nghệ thuật,có một số tác phẩm chạy theo thị hiếu tầm thường, chất lượng thấp, thậm chí có hại"

          Đã và đang tồn tại nghịch lý trong hoạt động sáng tác văn học, nghệ thuật thời gian qua, là số lượng tác phẩm xuất hiện ngày càng nhiều nhưng lại ít tác phẩm có giá trị tư tưởng cao. Không ít tác phẩm sa váo những chuyện vụn vặt, tầm thường, không có ý nghĩa đối với đời sống. Trong khi đó, từ sau đổi mới, xuất hiện ngày càng nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật nghiêng về khai thác, tô đậm mặt đen tối, tiêu cực thậm chí một số tác phẩm có tình bôi đen hoặc phỉ báng, phủ nhận những thành tựu của quá khứ va những mặt tốt đẹp, tích cực của cuộc sống hiện tại. Đồng thời tồn tại cả hai xu hướng, vừa tuyệt đối hoá đời sống cá nhân cá nhân vụn vặt, quay lưng lại với với những vấn đề nóng bỏng, bức thiết của đời sống, hạ thấp, xuyên tạc bóp méo sự thật lịch sử, hạ bệ thần tượng của dân tộc. Xu hướng thương mại hoá, hạ thấp chức năng                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                         giáo dục, nhấn mạnh một chiều chức năng giải trí và đề cao thái quá sự biểu hiện "Cái tôi nghệ sỹ" có chiều hướng phát triển dưới nhiều biểu hiện phức tạp. Loại sản phẩm "ăn khách" chạy theo thị hiếu thấp kém xuất hiện ngày một nhiều như: truyện sex, trinh thám, vụ án, thơ tình uỷ mỵ, gào thét sướt mướt, phim chuyện với những mối tình mùi mẫn, những cảnh hở hang, gợi dục, gật gân, tranh ảnh khoả thân thẩm mỹ thấp kém, kiến trúc thi dân phô trương, lố lăng, bắt chước, nhại cổ, sân khấu hài gây cười"cơ giới",thô tục, rẻ tiền... đang trở thành một vấn nạn, tác động xấu đến thị hiếu công chúng và làm ô nhiễm đời sống văn học, nghệ thuật, môi trường văn hoá - xã hội. Xuất hiện một số tác phẩm bắt chước, mô phỏng, chạy theo hình thức và các thủ pháp xa lạ và bản sắc của văn nghệ dân tộc

          Đối với hoạt động giới thiệu, quảng bá, biểu diễn văn học, nghệ thuật, do sức ép của thị trường  nhu cầu của một bộ phận công chúng, mục tiêu chạy theo lợi nhuận đơn thuần nên một số đơn vị, công ty kinh doanh dịch vụ văn hoá... đã tiếp tay, làm gia tăng các tác phẩm tầm thường,chủ yếu hướng đến đáp ứng các nhu cầu thuần tuý. Số lượng các cuộc triển lãm, các hoạt động biểu diễn ngày cáng tăng song còn có nhiều  biểu hiện phát triển mang tính tự phát thiếu tồ chức và buông lỏng quản lý, làm cho chất lượng các tác phảm trưng bày và biểu diễn không cao. Nhiều hoạt động văn học, nghệ thuật có giá trị, mang ý nghĩa tích cực đối với đời sống tinh thần của xã hội và đối vơí bản thân sự phát triển của các loại hình nghệ thuật lại không có vị trí đúng mức trên báo chí, trên truyền hình, vì sự phiến diện, thiếu kiến thức và thiếu chuẩn mực để đánh giá khi sử dụng và truyền bá các tác phẩm. Đặc biệt, việc giới thiệu các tác phẩm văn học, nghệ thuật nước ngoài ở Việt Nam trong thời gian vừa qua ngày càng bộc lô những biểu hiện đáng lo ngại, chứa đựng những nguy cơ to lớ. Các tác phẩm văn học, nghệ thuật được địch, giới thiệu không theo một chiến lược rõ ràng, không tuân thủ theo một quy trình chặt chẽ với sự tham gia của các chuyên gia, nhà quản lý. Sự buông lỏng này đã tạo điều kiện cho một số doanh nghiệp không có lương tâm "tuồn" ra thị trường những sản phẩm độc hại. Truyện ngôn tình của Trung quốc tràn lan, các bộ phim bạo lực, các tác phẩm âm nhạc uốn éo.. lấn át các tác phẩm tốt trong nước, đồng thời tác động tiêu cực đến thị hiểu thẩm mỹ của công chúng, đặc biệt là công chúng trẻ tuổi.

          Hiện tượng sách, băng đĩa lậu xuất bản và phát hành tràn lan trên thị trường văn hoá đến nay chưa có giải pháp và chế tài ngăn chặn. Phần lớn xuất bản phẩm được in lậu lại có vấn đề về tư tưởng, chính trị hoặc là loại tác phẩm câu khách hợp gu một bộ phận  công chúng có thị hiếu  thấp hoặc một số tác phẩm chạy theo mốt, thời thượng...Trong khi đó, một số tác phẩm có giá trị thực sự, là kết quả lao động nghiêm túc, công phu cuả người sáng tạo lại chỉ được xuất bản phát hành, in ấn, trình diễn rất hạn chế (có đầu sách có giá trị chỉ in 500 cuốn, có những chương trình nghệ thuật được xây dựng công phu được trình diễn vài lần, có chất lượng tốt chỉ chiếu được một số buổi ít ở các rạp). Chúng ta đã rơi vào thế bị động, lúng túng trước tác động tiêu cực của thị trường các sản phẩm văn hoá. Tác động đó còn ảnh hưởng rất phức tạp đến tư duy, suy nghĩ, tâm lý của một bộ phận văn nghệ sỹ. Một số chạy theo sức hút của thị trường, sản xuất ra các loại tác phẩm chất lượng trung bình, không vi phạm luật pháp nhưng không giúp ích cho sự phát triển của văn nghệ cũng như xã hội. Một số biểu diễn ca múa nhạc rơi vào trình trạng tự phát, xô bồ, đơn thuần vị mục đích lợi nhuận, với biểu hiện lố lăng, bắt chước, sao chép, lai căng, xa rời truyền thống dân tộc ... Sự chệnh lệch trong hưởng thụ cũng ảnh hưởng mạnh đến tâm huyết, sự nỗ lực sáng tạo và sự an tâm nghề nghiệp trong một bộ phận văn nghệ sỹ hoạt động trong các đơn vị nghệ thuật Nhà Nước.

          2- Thực trạng lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật hiện nay

          Lý luận văn học, nghệ thuật là khoa học nghiên cứu các quy luật chung của hoạt động văn học, nghệ thuật, bao gồm bản chất, đặc trưng, cấu tạo, quy luật tồn tại và phát triển của văn học, nghệ thuật nói chung cũng như từng loại hình nghệ thuật nói riêng. Phê bình văn học, nghệ thuật là sự thẩm định, lý giải, đánh giá các tác phẩm, tác giả, sự kiện, hiện tượng văn học, nghệ thuật đương đại (hoặc có ý nghĩa với đương đại). Lý luận và phê bình văn học, nghệ thuật tuy có những đặc trung khác biệt nhưng tồn tại trong mối quan hệ hữu cơ, mật thiết với nhau. Lý luận văn học, nghệ thuật phát triển trên cơ sở những kết luận, chỉ dẫn của phê bình văn học, nghệ thuật. Ngược lại, lý luận văn học, nghệ thuật cung cấp hệ thống quan niệm, khái niệm, thuật ngữ công cụ để phê bình văn học có thể nắm bắt, kiến giải các hiện tượng văn học, nghệ thuật

          a- Từ sau Đổi mới đến nay, lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật đã có những bước phát triển mạnh theo hướng ngày càng phong phú, đa dạng, mới mẻ và sâu sắc  hơn.

          Trong 32 năm đổi mới đất nước, lý luận văn học Việt Nam đã có bước tiến đáng kể, góp phần nghiên cứu, hướng dẫn làm rõ những vấn đề bản chất của văn học, nghệ thuật, mối quan hệ giữa văn nghệ với chính trị, giữa hiện thực và nghệ thuật được hiểu khoa học và sâu sắc hơn, tính chủ thể của văn nghệ sỹ được coi trọng, phạm vi đời sống phản ánh vào văn học, nghệ thuật được mở rộng, đa dạng hóa. Tư tưởng văn nghệ truyền thống của ông cha bước đầu được nghiên cứu có hệ thống. Một số phương pháp nghiên cứu, phê bình văn nghệ mới như phong cách học, thi pháp học, phân tâm học... được vận dụng, bước đầu đem lại những kết quả mới. Một số khái niệm lý luận cũ được điều chỉnh, nhiều khái niệm mới được sử dụng trong thực tiễn nghiên cứu lý luận. Một số giáo trình lý luận văn học, nghệ thuật ở đại học được bổ sung những kiến thức mới, viết lại phong phú và cập nhật hơn. Nhiều tác phẩm lý luận văn nghệ của nước ngoài được dịch, giới thiệu. Nhiều trường phái nghiên cứu văn học, nghệ thuật phương tây trước đây không có điều kiện phổ biến ở Việt Nam cũng được giới thiệu, dịch và xuất bản. Những vấn đề về đặc trưng, bản chất của từng loại hình văn học, nghệ thuật cũng được quan tâm, nghiên cứu và có những nhận thức mới. Tuy mới là bước đầu, song lý luận văn nghệ của chúng ta đang trong quá trình đổi mới.

          Bên cạnh lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật thời kỳ đổi mới đã kịp thời phát hiện, giới thiệu đến công chúng nhiều tác giả, tác phẩm văn nghệ; phát hiện sớm những cái hay, cái đẹp về nội dung và hình thức của tác phẩm nghệ thuật; hướng dẫn thị hiếu của công chúng thưởng thức nghệ thuật tạo diễn đàn giữa nhà văn với công chúng; khích lệ những tìm tòi, sáng tạo và củng cố niềm tin cũng như dũng khí đổi mới ở người sáng tác văn học, nghệ thuật. Phê bình văn học đã góp phần khắc phục lối phê bình xã hội học dung tục, võ đoán, quy chụp chính trị hoặc trì trệ bảo thủ không theo kịp sự phát triển. Thông qua sinh hoạt phê bình, một số vấn đề liên quan đến hệ thống chuẩn mực các giá trị văn học, nghệ thuật và hệ thống lý luận mỹ học đã bước đầu được phát triển và lý giải. Đó là các vấn đề về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa; chức năng của văn học, nghệ thuật; đánh giá thành tựu văn học, nghệ thuật cách mạng và kháng chiến... Với những phát hiện có nhiều tìm tòi, sáng tạo trong giai đoạn này, phê bình văn học, nghệ thuật đã tiếp cận được những vấn đề lý luận thiết yếu, đề xuất và gợi mở hướng tư duy để tạo đà cho trào lưu đổi mới diễn ra từ năm 1986 đến nay. Bên cạnh đó, một thành tựu rất quan trọng của phê bình văn học, nghệ thuật thời gian qua là đấu tranh với những xu hướng cực đoan, đối lập văn nghệ với chính trị, phủ nhận thành tựu văn nghệ cách mạng, phủ nhận sự thật lịch sử, tuyệt đối hoá hình thức nghệ thuật, góp phần định hướng sáng tác và lý luận công chúng. Cống hiến rất quan trọng của công tác phê bình văn nghệ vừa qua là kiên định và thống nhất nhận thức khi đặt đổi mới văn nghệ là một bộ phận của đổi mới đất nước, văn nghệ phải góp phần vào ổn định và phát triển chung của toàn xã hội.

          b- Tuy nhiên, đặt trong tương quan với những đòi hỏi của thực tiễn sáng tạo, với yêu cầu phát triển của văn học, nghệ thuật thì lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém cần giải quyết

     Hoạt động lý luận văn nghệ của chúng ta còn yếu kém, chưa phát huy được tác dụng tích cực đối với đời sống văn nghệ. Sự hiểu biết lý luận, nói chung chưa sâu sắc, thiếu các công trình nghiên cứu chuyên sâu có chất lượng về lý luận; có ngành nghệ thuật còn thiếu vắng lực lượng chuyên gia về lý luận. Lý luận văn học, nghệ thuật có những biểu hiện già cỗi, xơ cứng, kém năng động, xa rời thực tiễn sáng tác. Các công trình tổng kết, đề xuất các vấn đề lý luận rất hiếm. Các vấn đề như phương pháp sáng tác, các khuynh hướng sáng tác đang xuất hiện và phát triển đều thiếu các công trình lý luận soi sáng. Điều này dẫn đến sự thiếu vắng tiêu chí khoa học trong phê bình, đánh giá các sáng tác văn học, nghệ thuật. Việc bên dịch, giới thiệu lý luận văn học, nghệ thuật thế giới mới làm được rất ít, chưa được tổ chức có quy hoạch, có hệ thống. Một số người có thái độ sùng bái, tiếp nhận thiếu tỉnh táo, khoa học đối với lý luận văn học, nghệ thuật phương Tây. Đáng chú ý là lý luận văn học, nghệ thuật Mác xít chưa được nghiên cứu tương xứng với vai trò và giá trị đích thực của nó, còn thiếu những công trình lớn làm sáng tỏ những vấn đề quan trọng; cái đúng, cái cách mạng cần được tập trung vận dụng, phát triển và cái giáo điều, cái ngộ nhận đã bị thực tiễn vượt qua... chưa được minh định rạch ròi. Đối với di sản lý luận văn nghệ Mác xít, chúng ta chưa có kế hoạch nhìn lại, đánh giá thoả đáng những thành công và những khuyết điểm để có sự kế thừa và phát triển đúng đắn trong giai đoạn mới. Khá nhiều vấn đề lý luận văn nghệ còn bỏ ngỏ, dừng lại giữa chừng, không được lý giải, minh chứng xác đáng khoa học.

          Trong khi đó, những yếu kém và khuyết thiếu trong phê bình văn học, nghệ thuật đang trở thành mối quan tâm lo lắng của cả giới nghiên cứu, sáng tác lẫn công chúng. Những vấn đề cơ bản tưởng như đã được giải quyết về mặt bản chất, như đối tượng, vị trí, chức năng và vai trò của phê bình... lại có nhu cầu được đặt ra và nhận thức lại. Qua những cuộc hội thảo, tranh luận trên các diễn đàn cho thấy nhận thức và quan niệm về các vấn đề trên còn thiếu thống nhất, thậm chí trái ngược nhau, dẫn đến tình trạng gán ghép những phạm vi, lĩnh vực không thuộc phê bình văn nghệ cho chính nó, làm sai lệch chức năng của phê bình nghệ thuật. Lối phê bình cảm tính, bất chấp những hiểu biết về lý luận nghệ thuật đang có chiều hướng thịnh hành trong đời sống văn nghệ, vì cho rằng người phê bình chỉ dựa trên năng khiếu cảm thụ cá nhân sao cho tinh tế, chính xác. Quan niệm đó thực chất là hạ thấp hoặc xem nhẹ vai trò cảm thụ lý tính, triệt tiêu bản chất khoa học của phê bình văn nghệ.

          Nhìn vào đội ngũ phê bình hiện nay có thể thấy một tình trạng đáng lo ngại. Những người làm phê bình thực thụ rất ít, thay vào đó là những phê bình không chuyên, do hạn chế về năng lực, kiến thức, trình độ nên các bài viết nhiều khi chỉ nhằm mục đích lăng xê tác phẩm này hay tác giả nọ, thậm chí chỉ gây chú ý cho bản thân, gây sự ồn ào giả tạo, xét nét nhau trong bình phẩm văn nghệ, hoàn toàn không phải là những bài viết phê bình đích thực. Trên một số tờ báo, tạp chí chủ yếu chỉ còn thấy các bài giới thiệu, điểm sáng tác, thiếu sự đánh giá toàn diện, có chiều sâu về tác phẩm, tác giả. Tác hại của lối phê bình này là làm sai lệch diện mạo, giá trị của tác phẩm, làm biến dạng đời sống văn nghệ. Trong khi thực trạng phê bình đang diễn ra như vậy thì phần đông các nhà phê bình có tên tuổi, có uy tín hoặc vì tuổi tác, hoặc vì ngại va chạm, đã tìm đến với công việc khác. Trận địa phê bình bị bỏ trống, thiếu những tác phẩm phê bình đích thực mà người sáng tác cũng như công chúng văn nghệ chờ đợi. Thêm vào đó, phê bình văn học, nghệ thuật hiện nay cũng bị chi phối bởi những mặt tiêu cực của cơ chế thị trường. Thực tế cho thấy, không chỉ một số người sáng tác, mà còn cả một số người làm phê bình nhiều khi không giữ được động cơ thuần khiết và sự chuẩn mực trong đánh giá khiến cho đối tượng phê bình méo mó, biến dạng đến mức phi văn chương, hạ thấp nghệ thuật, không giữ được trọn thiên chức và đạo đức của nhà phê bình.

          Nhìn chung, hoạt động lý luận, phê bình văn nghệ chậm phát triển, thiếu tính học thuật, tính chiến đấu, ít tác dụng thúc đẩy sáng tác, không đủ sức tuyên truyền, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng và định hướng tư tưởng, thẩm mỹ cho công chúng. Hiện nay, lý luận văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện nay đang đối mặt, giải quyết nhiều vấn đề quan trọng. Trước hết, lý luận văn học, nghệ thuật cần nghiên cứu, đánh giá thoả đáng, tiếp thu những tinh hoa trong di sản mỹ học, lý luận văn nghệ Mác xít. Thứ hai, xác lập quan điểm, phương pháp nhằm đẩy mạnh việc tiếp thu chủ động, có hiệu quả thành tựu lý luận văn học, nghệ thuật nước ngoài để hiện đại hoá, làm giàu thêm cho lý luận văn nghệ Việt Nam. Thứ ba, đẩy mạnh nghiên cứu, tiếp thu tinh hoa tư tưởng lý luận văn nghệ của phương Đông, trong đó có các di sản của ông cha ta. Thứ tư, trên cơ sở những vấn đề nêu trên, lý luận văn học, nghệ thuật đang đứng trước yêu cầu xây dựng một hệ thống quan niệm, khái niệm, thuật ngữ chặt chẽ, thống nhất, khoa học nhằm kiến giải, làm sáng rõ hàng loạt những vấn đề bức thiểt trong đời sống văn học, nghệ thuật, như vấn đề mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị, văn nghệ và hiện thực, mối quan hệ giữa nội dung và hình thức,...

          Tương tự như lý luận, bên cạnh những kết quả đạt được, phê bình văn học, nghệ thuật cũng đang đứng trước những đòi hỏi cấp thiết để khẳng định vai trò, vị trí của mình, thúc đẩy sự phát triển của văn học nghệ thuật. Thứ nhất, phê bình cần nhanh chóng khắc phục tình trạng lúng túng, thiếu tỉnh táo để có được tầm nhìn bao quát, sâu rộng trước thực tiễn sáng tạo vốn đa dạng, phong phú và có chiều hướng phức tạp như hiện nay. Thứ hai, trên cơ sở sự phong phú, đa dạng và cởi mở của các hệ thống lý luận mới, phê bình cần xác lập đúng đắn mục đích, chuẩn mực giá trị của văn học, nghệ thuật để thể hiện tiếng nói, thái độ của mình. Thứ ba, phê bình đang đứng trước yêu cầu thiết lập lại không khí trao đổi, đối thoại, tranh luận học thuật thẳng thắn, cởi mở trên tinh thần khoa học. Thứ tư cần có biện pháp để phát triển lực lượng, vốn là vấn đề đầy thách thức đối với phê bình văn học, nghệ thuật, đặc biệt là ở các ngành nghệ thuật (Âm nhạc, Mỹ thuật, Điện ảnh, Sân khấu, Múa,...)

          3- Thực trạng tiếp nhận văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện nay

          Tiếp nhận văn học, nghệ thuật là hoạt động "tiêu dùng", thưởng thức, phê bình văn học, nghệ thuật của công chúng thuộc nhiều loại hình, nhiều trình độ khác nhau. Có sáng tạo các tác phẩm văn nghệ thì dĩ nhiên sẽ có tiếp nhận và chính sự tiếp nhận đã tác động trở lại sáng tác, góp phần làm thoả mãn nhu cầu tinh thần, nhu cầu thẩm mỹ của con người trong cuộc sống. Tiếp nhận văn học, nghệ thuật có những nét đặc thù, phân biệt với việc sử dụng các sản phẩm vật chất, mặc dù, dưới góc nhìn của kinh tế học, cả hai cùng thuộc phạm trù "tiêu dùng" hoặc "tiêu thụ", có ý nghĩa chung là kích thích nhu cầu sản xuất, hoàn tất hoạt động sản xuất và chứng minh giá trị có thật của sản phẩm. Khi sử dụng các sản phẩm vật chất, người ta chủ yếu quan tâm đến các thuộc tính sẵn có nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất của con người. Ngược lại, khi đến với tác phẩm văn học, nghệ thuật - một sản phẩm tinh thần, cái được công chúng tiếp nhận chú ý hơn cả là thế giới tinh thần được hàm chứa, biểu lộ thông qua hình tượng nghệ thuật. Một sự tiếp nhận văn học, văn nghệ đích thực đồng nghĩa với việc làm sống dậy khách thể tinh thần của tác phẩm, biến nó thành năng lực tư duy, cảm nhận, cảm xúc của chính người tiếp nhận, thành một yếu tố của đời sống ý thức xã hội. Tóm lại, tiếp nhận văn học, nghệ thuật có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoàn tất quá trình, "vòng đời" của tác phẩm văn học, nghệ thuật. Nhờ tiếp nhận, hoạt động sáng tạo nghệ thuật trở nên có ý nghĩa, có mục đích và những giá trị chân chính của tác phẩm được bảo tồn, được phát triển phong phú thêm lên, trở thành một nhân tố tích cực của đời sống tinh thần con người. Trong mối quan hệ với tác phẩm văn học, nghệ thuật, công chúng không thụ động tiếp nhận mà qua đó, thể hiện tính tích cực, sáng tạo. Chính công chúng tiếp nhận, thông qua hoạt động liên tưởng, tưởng tượng của mình đã lấp đầy những "khoảng trống" mà người sáng tạo có ý thức hoặc vô tình tạo nên, cụ thể hoá cấu trúc ký hiệu của tác phẩm văn học, nghệ thuật, làm sống dậy hình tượng và tìm ra ý nghĩa của tác phẩm. Ở cấp độ cao hơn, người tiếp nhận có thể phát hiện ra ý nghĩa mới của tác phẩm, có thể vượt ra ngoài sức tưởng tượng của người sáng tạo. Tuy vậy, tác phẩm văn học, nghệ thuật cũng có tính khách quan của nó. Đó là cấu trúc được tạo nên bởi vô số những quan hệ giữa các yếu tố của tác phẩm, trên cơ sở ngôn ngữ của từng loại hình nghệ thuật. Cấu trúc đó tạo ra giới hạn, quy định, kiểm soát hoạt động tiếp nhận của công chúng. Đến đây cần khẳng định trở lại, tính tích cực, sáng tạo của người tiếp nhận không có nghĩa là có quyền xuyên tạc, tuỳ tiện trong việc định giá tác phẩm văn học, nghệ thuật.

          Hiện nay, tiếp nhận văn học, nghệ thuật đang có sự phân hoá rõ rệt theo hướng đa dạng hoá thị hiếu thẩm mỹ. Công chúng tiếp nhận văn học nghệ thuật Việt Nam không đồng nhất và có sự phân hoá giữa các loại hình nghệ thuật khác nhau khi chịu ảnh hưởng trực tiếp từ bối cảnh nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số. Bên cạnh một số loại hình vẫn thu hút được số lượng lớn công chúng như văn học, âm nhạc, điện ảnh thì một số loại hình khác như sân khấu, mỹ thuật,... lại rất ít người quan tâm. Sự phân hoá không chỉ diễn ra giữa các loại hình nghệ thuật mà còn diễn ra ngay trong từng loại hình. Sự đa dạng thị hiếu là đặc điểm dễ nhận thấy trong tíêp nhận văn học, nghệ thuật hiện nay. Ví dụ, trong lĩnh vực văn học, theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Viện Văn học Việt Nam, khảo sát một cách ngẫu nhiên 636 người, có đến 65.9% (chiếm tỉ lệ cao nhất) đối tượng chọn đọc tác phẩm viết về đề tài tình yêu, hôn nhân và gia đình; đề tài chiến tranh: 37.1%; đề tài nông thôn: 37%; đề tài lịch sử:31.9%... Đây là những con số đáng lưu ý, cho thấy sự chuyển đổi thị hiếu một cách mạnh mẽ theo hướng đa dạng, phân hoá rõ nét, một diện mạo khác hẳn so với tiếp nhận văn học, nghệ thuật giai đoạn trước. Cũng theo khảo sát trên, có 69,1% người đọc hướng tới các giá trị tư tưởng cao và tầm vóc, chiều sâu nhân văn, đồng thời 50,2% hướng tới các tác phẩm có tính nghệ thuật đặc sắc, mới mẻ, 41,3% chú ý vấn đề tâm linh, vô thức và có 14,3% quan tâm tác phẩm đi vào chủ đề tình dục. Có tới 87,2% công chúng hướng vào tác phẩm dịch của nước ngoài, đồng thời vẫn có 87,5% (trong số 488 người được hỏi) cho rằng, văn học, nghệ thuật Việt Nam đặt ra những vấn đề gần gũi với đời sống. 66,9% người được hỏi cho rằng đọc trên mạng tiện lợi hơn, và 51,1% đọc trên mạng vì khỏi "tốn tiền mua sách"... 74,5% người được hỏi quan tâm đến những tác phẩm đang được dư luận quan tâm, và đặc biệt có 33,2% tìm đọc những tác phẩm thường được gọi là "có vấn đề" (sex, cấm kỵ về tôn giáo, liên quan quan điểm chính trị, bí mật đời tư...). Trong sự biến đổi trên, có thể nhận thấy, nhu cầu giải trí phát triển rất mạnh, trong khi đó, nhu cầu đến với tác phẩm để tự nâng cao tri thức, nhận thức, tự trao dồi, giáo dục... như trước đây, đang có xu hướng giảm. Không chỉ biến đổi theo hướng đa dạng hoá, sự hình thành các nhu cầu và thị hiếu mới, mà còn bộc lộ ngày càng rõ sự khác nhau, sự đối chọi, ngược nhau trong giao tiếp, đánh giá, cảm thụ tác phẩm văn học, nghệ thuật, điều mà trong giai đoạn thời chiến, ít xảy ra, khi sự thống nhất, đồng nhất chiếm vị trí bao trùm.

          Trong đời sống văn học, nghệ thuật Việt nam hiện nay, khi vai trò của các phương tiện truyền thông ngày càng lớn, kéo theo nó là sự "lên ngôi" của công chúng phổ thông. Thời đại phát triển của truyền thông đã mang đến công chúng nhiều cơ hội, sự lựa chọn. Từ một đời sống văn học, nghệ thuật thuần nhất và phần nào nghèo nàn trong khâu in ấn, phát hành, công diễn tác phẩm thì hiện nay chúng ta lại phải đối mặt với tình trạng "loạn sách", "loạn tác phẩm" , "loạn thông tin", do có quá nhiều thứ để đọc, để nghe, để xem. Thực tiễn đời sống văn học, nghệ thuật cho thấy có lúc chúng ta xem nhẹ, có lúc lại đề cao quá vai trò của công chúng, coi những thẩm định, đánh giá của công chúng như một giá trị mà không tính đến những giá trị khác. Dường như đang có sự "khuếch đại" quá mức vai trò của công chúng, trong khi, trên thực tế các yếu tố trong cấu trúc nghệ thuật có sự ràng buộc và vai trò ngang bằng nhau. "Văn hoá đại chúng" thường chi phối tư tưởng, hành vi của cá nhân theo sự gợi ý, và "cơ chế lây nhiễm", vì vậy, nó chỉ có ý nghĩa nhất thời, không có sức sống, "không có điểm tựa trong đời sống cộng đồng" (cần có nguồn nếu để trong ngoặc ntn). Trong hoạt động nghệ thuật (âm nhạc, điện ảnh, văn học,...), có thể thấy rất rõ xu hướng coi công chúng là thước đo giá trị nghệ thuật, Quan niệm coi mục đích của sáng tạo nghệ thuật là để "phục vụ đại chúng" đã ít nhiều hạn chế việc tìm tòi cái mới của người nghệ sĩ, đồng thời cũng là một trong những yếu tố tạo nên "sức ỳ" trong tiến trình vận động, phát triển của nghệ thuật. Hiện nay đang có sự lẫn lộn giữa chân giá trị và nguỵ giá trị do đề cao "công chúng phổ thông", là loại công chúng tiếp nhận tác phẩm một cách cảm tính, theo nhu cầu giải trí, mà chưa thật sự chú ý đến quan niệm, ý kiến đánh giá, thẩm bình của "công chúng lý tưởng", tầng lớp công chúng có trình độ văn hoá cao, am hiểu văn học, nghệ thuật.

          Trong khi đó, vấn đề định hướng, giáo dục, thẩm mỹ đúng đắn, kịp thời cho công chúng hiện nay đang có những bất cập, hạn chế lớn. Trong xu thế giao lưu và hội nhập ngày càng mở rộng, bên cạnh việc giới thiệu, quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật Việt Nam ra nước ngoài, thì quá trình tiếp nhận, tiếp thu và tiêu biến các giá trị văn hoá, nghệ thuật của nước ngoài vào Việt Nam được xem là một quy luật tất yếu. Chưa bao giờ văn học, nghệ thuật nước ngoài được giới thiệu nhiều ở Việt Nam như bây giờ. Các phương tiện thông tin đại chúng và mạng truyền thông Internet đã trở thành công cụ hữu hiệu để truyền bá văn học, nghệ thuật, giúp cho văn học, nghệ thuật càng đến với công chúng nhiều hơn và phát huy tác dụng lớn hơn (tác dụng này có thể hiểu ở cả phương diện tích cực và tiêu cực). Nhưng nó cũng khiến cho công chúng đôi khi "đứng ở ngã ba đường", khó khăn trong thẩm định, đánh giá tác phẩm. Tình trạng thiếu sự định hướng, đánh giá thẩm mỹ đúng đắn và kịp thời khiến cho thực trạng thưởng thức văn học, nghệ thuật Việt Nam những năm gần đây bộc lộ những vấn đề đáng lo ngại. Trong công chúng văn học, nghệ thuật đặc biệt là giới trẻ thường thích truyện tranh, mê xem hình hơn đọc chữ. Trong lĩnh vực âm nhạc, ca khúc đại chúng tung hoành ngang dọc, còn mảng lớn khác như nhạc không lời, hợp xướng... bị bỏ quên. Với nghệ thuật sân khấu lại đặt ra vấn đề là, phải chăng sân khấu hiện nay chỉ có tấu hài, hài kịch? Khán giả mê điện ảnh cũng nhận thấy phim truyền hình nhiều tập đang thống trị. Thực tế, hiện tượng chạy đua theo trào lưu thế giới hiện được coi là mốt của số đông công chúng trẻ.

          4- Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém, bất cập trong đời sống văn học, nghệ thuật hiện nay và đòi hỏi đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực này

          Công cuộc đổi mới đất nước đã diễn ra tròn 30 năm, đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá đã có những biến chuyển nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Đó là thực tiễn của cuộc đấu tranh đan xen giữa rất nhiều bình diện, nhiều yếu tố đặt ra nhiều vấn đề không dễ giải đáp. Chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế do Đảng ta khởi xướng đang đuợc thúc đẩy mạnh mẽ và trong quá trình đó đã bộc lộ những mặt trái, tồn tại, hạn chế trực tiếp tác động đến niềm tin của đội ngũ văn nghệ gây ra những lúng túng, nhầm lẫn trong việc "chọn đường". Trong khi đó, các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội chính trị không ngừng thực hiện mưu đồ chống phá, thực hiện diễn biến và tự diễn biến trong lĩnh vực văn nghệ đã tác động không nhỏ đến sự phát triển của đời sống văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện nay.

          Hiện nay, trong đời sống văn học, nghệ thuật đang có tình trạng già hoá đội ngũ văn nghệ sĩ, cả lực lượng sáng tác, lý luận, phê bình, biểu diễn và quản lý, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng thiếu những đột phá sáng tạo. Thế hệ văn nghệ sĩ trẻ (những người sinh ra và lớn lên trong hoà bình, thống nhất đất nước) tuy có những điểm mạnh hơn hẳn so với thế hệ trước nhưng lại có bộ phận không nhỏ xem nhẹ trách nhiệm công dân, không có sự gắn bó máu thịt với thực tiễn đời sống, xa rời mục tiêu sáng tạo những tác phẩm đỉnh cao, dễ thoả mãn với bản thân,... Trong khi đó, một bộ phận văn nghệ sĩ lúng túng trước những biến đổi của đời sống, suy giảm nhiệt tình, lý tưởng sáng tạo hướng tới những vấn đề của dân tộc, thời đại. Đây chính là những lý do chủ quan khiến chúng ta chưa có những tác phẩm thực sự có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật.

          Công tác đào tạo nguồn nhân lực cho lĩnh vực văn học, nghệ thuật, thời gian qua đã bộc lộ những bất cập, yếu kém, khuyết điểm, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển lâu dài. Mạng lưới đào tạo phát triển nhanh, song sự phân bổ theo vùng miền và chất lượng đào tạo không đồng đều, chương trình đào tạo còn cũ, không đáp ứng được đòi hỏi mới và yêu cầu đào tạo tài năng. Rất nhiều ngành nghề và nhiều trường chưa có giáo trình chuẩn, vẫn tiếp tục giảng dạy theo kiểu truyền nghề, kinh nghiệm cá nhân. Đội ngũ giáo viên đầu ngành, có trình độ chuyên môn cao và được đào tạo cơ bản ở nước ngoài trước đây đã lớn tuổi và nghỉ hưu nhiều. Trong khi đó, Đảng và Nhà nước ta chưa chú trọng đúng mức tính đặc thù, chuyên biệt của công tác đào tạo đội ngũ, thiếu những chính sách, chế độ đặc thù đối với giáo viên và học viên, sinh viên các ngành nghề cần ưu tiên đặc biệt đối với tài năng và năng khiếu nghệ thuật; ngân sách chi cho đào tạo còn hạn hẹp, không đáp ứng được đặc điểm đào tạo nên không thu hút được tài năng, năng khiếu nghệ thuật. Một thực tế cho thấy: sinh viên tốt nghiệp đại học các ngành âm nhạc, múa, xiếc,... sau khoảng 7 đến 12 năm đào tạo, được hưởng lương như các đối tượng tốt nghiệp đạo học các ngành nghề khác. Hàng chục năm nay, công tác gửi giảng viên và sinh viên đào tạo ở nước ngoài hầu như không được thực hiện theo mục tiêu và kế hoạch dài hạn. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học, tuy có được cải thiện và nâng cấp một bước, song so với yêu cầu đặc thù của công tác đào tạo tài năng và năng khiếu nghệ thuật còn rất bất cập, thiếu thốn...

          Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân quan trọng hàng đầu, có ảnh hưởng mạnh đến các nguyên nhân kể trên, chính là phương thức lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật chậm được đổi mới, đã và đang bộc lộ những hạn chế, yếu kém.

          Thứ nhất, quá trình triển khai thực hiện các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng về văn học, nghệ thuật chậm và chưa thực sự hiệu quả. Vẫn tồn tại những khuyết điểm, yếu kém trong công tác quản lý nhà nước. Các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về văn học, nghệ thuật rất chậm được thể chể hoá, thiếu đồng bộ. Thực tế này đã diễn ra với Nghị quyết Trung ương 5 (khó VIII), Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị (tháng 11/1987), Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương (khoá VII) ngày (14/1/1993) và gần đây nhất là Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị (khóa X). Sau hơn 5 năm ban hành Nghị quyết chuyên đề về văn học, nghệ thuật quan trọng này, công tác thể chế hoá 7 giải pháp mới ra được thành 9 đề án. Trong số đó, mới chỉ có 4 đề án được thể chế và đi vào cuộc sống, còn 5 đề án của Chính phủ cần thể chế hoá thành 36 cơ chế chính sách đặc thù cho phát triển văn học, nghệ thuật. Sự chậm trễ trong việc thể chế hoá, đưa Nghị quyết của Đảng về văn học, nghệ thuật vào đời sống đã ảnh hưởng đến các chế độ đãi ngộ, đầu tư, khuyến khích sự sáng tạo, dần đánh mất niềm tin của văn nghệ sĩ.

          Thứ hai, công tác cán bộ của Đảng đối với lĩnh vực văn học, nghệ thuật còn bộc lộ nhiều bất cập. Trong công tác chỉ đạo quản lý, xuất hiện hiện tượng cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu, quản lý văn hoá, văn nghệ do Đảng và Nhà nước (cả ở Trung ương và địa phương) cử sang thường không được chuẩn bị đầy đủ về năng lực, về sự hiểu biết lĩnh vực đặc thù, do đó không có điều kiện, trình độ để xây dựng và thực hiện các kế hoạch, chương trình cơ bản, dài hơi. Đáng chú ý là một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý ít đọc, xem, nghe... các tác phẩm văn học, nghệ thuật, ngại tiếp xúc, khồng thấu hiểu, đồng cảm với đội ngũ hoạt động văn nghệ nên hạn chế lớn đến hiệu quả lãnh dạo, quản lý lĩnh vực này.

          Thứ ba, công tác kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng đối với văn học, nghệ thuật chưa được thực hiện đồng bộ, hiệu quả. Cơ chế Đảng lãnh đạo các cơ quan nhà nước thực hiện các quan điểm, tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực này vì thế không đạt được hiệu quả cao. Bên cạnh đó, các cấp uỷ có lúc, có nơi chưa thực sự hiểu rõ vai trò của văn học, nghệ thuật và trách nhiệm phát triển sự nghiệp này. Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị ghi rõ, giao cho Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương là cơ quan chủ trì giám sát việc thực hiện những chức năng. nhiệm vụ của Hội đồng hiện nay còn nhiều điểm chưa rõ, dẫn đến những khó khăn, vướng mắc và thiếu hiệu quả trong công tác kiểm tra, giám sát.

          Từ việc phân tích thực trạng, những kết quả đã đạt được và những hạn chế, yếu kém trong đời sống văn học, nghệ thuật Việt Nam từ sau Đổi mới đến nay, chuyên đề chỉ ra các nguyên nhân của thực trạng đó. Trong các nguyên nhân khách quan và chủ quan tác động, nổi bật vấn đề cần đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với văn học, nghệ thuật. Chỉ khi Đảng thực sự đổi mới tư duy, đổi mới phương thức lãnh đạo với những giải pháp đồng bộ thì mới có thể thúc đẩy sự phát triển, chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, yếu kém hiện nay của văn học, nghệ thuật, vốn là một lĩnh vực đặc biệt quan trọng và rất tinh tế này.

                                                                    


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 614
Đã truy cập: 1989940