Mối quan hệ biện chứng Nội sinh và Ngoại sinh tạo thành sức mạnh của dân tộc và của sự phát triển.

21/11/2014 15:00
 Trong lịch sử phát triển của mình, mỗi dân tộc, quốc gia bao giờ cũng có hai nguồn lực tạo nên sự phát triển: nguồn lực nội sinh và nguồn lực ngoại sinh. Đó là quy luật có tính phổ quát, ngay cả khi các dân tộc chưa có điều kiện đẩy đủ để giao lưu, hợp tác, quan hệ với nhau. Quy luật đó càng phát huy mạnh mẽ trong thời đại toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế hiện nay và sắp tới. Đặc điểm mới trong quan hệ giữa các dân tộc, các quốc gia thời hiện đại - đó là tính "Tuỳ thuộc lẫn nhau" đã và đang được khẳng định trong thực tiễn.

 Nội hàm của hai khái niệm "Nội sinh" và "Ngoại sinh" rất rộng, bao hàm trong đó liên quan đến tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại,... Bài viết này tập trung bàn về quan hệ biện chứng giữa sức mạnh nội sinh về văn hoá nước ngoài tác động, xâm nhập vào nước ta như là một sự tác động ngoại sinh từ bên ngoài. Các lĩnh vức kinh tế, chính trị,xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... được đê cập đều từ góc độ và giá trị văn hoá đề làm rõ quan hệ biện chứng đặc biệt giữa hai nguồn lực tạo nên sức mạnh tổng hợp độc đáo của văn hoá Việt Nam qua hàng ngàn năn lịch sử hình thành và phát triển.

1- Cách đây 16 năm, trong Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá VIII- 1998) về " Xây dựng và phát triển văn hoá Việt nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc", Đảng ta đã xác định "Văn hoá là nguồn lực nội sịnh quan trọng nhất của phát triển". Nhưng nhiều năm qua, hầu như không có ai làm rõ, bàn sâu, tập trung suy nghĩ về luận điểm này. Sau 13 năm, trong cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) và trong báo cáo chính trị được trình bày tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Luận điểm này lại tiếp tục được khẳng định "Văn hoá là sức mạnh nội sinh quan trọng của sự phát triển". Nhận rõ tầm quan trọng, ý nghĩa sâu xa của nó, gần đây nhất, Nghị quyết số 33- NQ/TW, ngày 09/6/2014 (Hội nghị Trung ương 9 khoá X) về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, luận điểm này lại được nhấn mạnh trong mục tiêu chung định hướng và xây dựng văn hoá, con người Việt Nam "Văn hoá thực sự ...là sức mạnh nội sinh quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc tổ quốc".

            Vậy, câu hỏi là sức mạnh nội sinh của sự phát triển bền vững của dân tộc? Luận cứ khoa học - lịch sử và thực tiễn của nó là ở đâu?

            (1) Sức sáng tạo của con người là vô tận, vì thế kết quả sáng tạo về văn hoá rất phong phú, đa dạng, luôn luôn biến đổi, thay đổi hàng ngày, thậm chí hàng giờ, cái mới, cái lạ, cái chưa từng có thường xuyên xuất hiện. Sự thay đổi đến chóng mặt, như vậy làm sao có thể trở thành sức mạnh nội sinh của cả dân tộc được?

            Mới ngày nào, các cụ còn đội khăn xếp, mặc áo the, đoc và viết chữ Hán, chữ Nôm bằng mực Tàu ... bây giờ chúng ta không còn thấy những cái đó nữa, mà thay bằng đủ loại quần jin, quần lửng, com-lê váy ngắn, áo dây, tiếng Anh, tiếng Pháp, máy vi tính, điện thoại di động hiện đại ... tràn ngập trong đời sống . Song, có một điều rất hiển nhiên là, dù có biến đổi như thế nào đi chăng nữa, người Việt Nam vẫn là người Việt Nam, khó trộn lẫn với các dân tộc khác. Ngay cả khi sống ở nước ngoài, người Việt Nam, cả Việt kiều đã đi xa nước lâu năm, vẫn giữ được đặc tính Việt, các mà nhà văn Nguyễn Đình Thị gọi là "Khoảng trời xanh" của cộng đồng người Việt. Như vậy, bản sắc văn hóa, nếp sống văn hoá của dân tộc trở thành mộ sự cố kết công động. Ở đây, xuất hiện "một nghịch lý" của sự phát triển văn hoá: một mặt, văn hoá với tư cách là các sự kiện, sản phẩm, kết quả cụ thể thương xuyên biến đổi, mặt khác, văn hoá lại tạo ra những nhân tố định hình, có tính chất  bất biến để tạo ra các riêng. cái độc đáo, cái cốt cách của một cộng đồng, một dân tộc. Để lý giải "Nghịch lý" này, chúng ta phải xuất phát từ cấu trúc của văn hoá. Theo đó, cái luôn luôn biến đổi, cái hàng ngày các sản phẩm cụ thể .. là cấu trúc bề mặt của văn hoá (ta nhìn, nghe, thấy được). Ẩn dưới cấu trúc bề mặt là cấu trúc chiều sâu, là những hệ giá trị (cái cần đạt tới cùa hoạt động văn hoá). Đó lá những hằng số ít biến đổi, là cái gốc điều chỉnh mọi hoạt động xã hội, giữ tính liên tục, tạo thế ổn định hướng phát triển. Phải đạt được cả hai mặt đó trong cấu trúc văn hoá mới tạo được tạo được những công trình, sản phẩm văn hóa có giá trị cao, đáp ứng nhu cầu sống hàng ngày của con người và qua đó, xây các giá trị trong nhân cách con người và cốt cách cộng đồng, dân tộc. Hiện nay, đang có hiện tượng khá phổ biến, chỉ chú ý đến cấu trúc bề mặt của văn hóa, lảnh tránh hoặc thiếu năng lực tạo ra các giá trị chiều sâu của các sản phẩm văn hoá. Rõ ràng là những biến đổi trên bề mặt dù thiên biến vạn hoá như thế nào chăng nữa cung không thể và không phải là sự biến đổi hỗn loạn, thoát khỏi hoặc từ chối vai trò chiều sâu của nó là tạo ra các giá trị cho cộng đồng, dân tộc. Như vậy, các yếu tố phát triển trên bề mặt, trong quá trình biến đổi, có sự lựa chọn, loại bỏ, một số còn lại dần dần thấm sâu và tác động đến cấu trúc chiều sâu, làm cho hệ giá trị cũng biến đổi theo, dù rất chậm chạp. Những giá trị đó được đúc kết, bổ sung và định hình để, theo tiến trình lịch sử dân tộc, trở thành hằng số cốt cách dân tộc. Hay nói cách khác, đó chính là đặc trưng văn hoá dân tộc để khu biệt dân tộc ta với dân tộc khác, cái mà chúng ta gọi là Hồn dân tộc.

            Như vậy, cùng với việc chấp nhận và tôn trọng sự biến đổi rất phong phú, đa dạng, sinh động, bất ngờ trên cấu trúc bề mặt của văn hoá,chúng ta cần đặc biệt lưu tâm làm cho văn hoá bám rễ sâu sắc vào mảng đất tâm thức của dân tộc, thể hiện hồn dân tộc, cốt cách dân tộc. đó chính là cơ sở khoa học (nằm ngay trong bản chất, đặc trưng của văn hoá) để Đảng ta khẳng định văn hoá là sức mạnh nội sinh quan trọng của đan tộc và sự phát triển bền vững, "hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam".

            (2) Văn hoá chính là tổng thể các giá trị do con người sáng tạo ra, đó là các giá trị vật chất và tinh thần. Văn hoá cũng chính là trình độ, năng lực hoạt động sống của người và thể hiện sinh động chính bản thân sự phát triển của con người.cộng đồng dân tộc.

            Có hai loại giá trị: giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Trong các giá trị tinh thần, người ta thường nói đến giá trị khoa học (cái chân lý), giá trị chính trị pháp luật (cái hợp pháp), giá trị đạo đức (cái thiện, cái tốt) giá trị thẩm mỹ (cái đẹp) ... tất cả các loại giá trị đó đều được coi là các giá trị văn hoá. Như vậy, giá trị là một khái niệm chỉ có ý nghĩa của các hiện tượng vật chất cũng như tinh thần mà mỗi cộng đồng người quan tâm dựa trên cơ sở thoả mãn nhu cầu hay lợi ích nhất định.

            Cái  ít biến đổi mà trên kia, ta gọi bằng số, là yếu tố tĩnh của văn hoá nằm trong tâm thức con người, được đúc kết và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác,chính là các hệ thống gía trị. Đó là cái gốc cần có của sự tồn tại và phát triển của Văn hoá. có ba loại giá trị cơ bản tạo nên văn hoá, cái gốc của văn hoá là các giá trị chân, thiện, mỹ. Ba giá trị đó bao trùm và phải được thấm sâu trong toàn bộ đời sống con người, được khẳng định là các chuẩn mực bao quát nhất cho tính nhân văn để đánh giá và định hướng cho sự phát triển xã hội. Ví như, khi chúng ta tập trung mọi nguồn lực quốc gia để tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất cho con người thi bản thân kinh tế phải tuân theo lý tưởng thẩm mỹ và chuẩn mực đạo đức, nếu không, kinh tế sẽ lấn át văn hoá dẫn tới sự phát triển không thể bền vững và làm xói mòn những giá trị văn hoá. Quan điểm này có vai trò đặc biệt quan trọng khi chúng ta xử lý những vấn đề văn hoá trong quan hệ với tăng trưởng kinh tế nói riêng và trong sự phát triển bền vững của dân tộc, nói chung.

            Như vậy, các giá trị văn hoá được chắt lọc và được kết tinh thành truyền thống của mỗi dân tộc,được công đồng lựa chọn tạo nên bản sắc của dân tộc đó, được truyền từ đời này sang  đời khác. Chính vì thế mà giá trị là kim chỉ nam hướng dẫn các thành viên trong cộng đồng (dân tộc, giai cấp, các tâng lớp xã hội , các giới...) phân biệt đúng - sai, thiện - ác, đẹp - xấu để hành động nhằm đưa con người vươn lên sự hoàn thiện, tức là vươn tới chân, thiện, mỹ.

            (3) Giá trị và chuẩn mực xã hội không hoàn toàn đồng nhất vì giá trị của những gì do con người sáng tạo đều được đánh giá bằng thước đo của chuẩn mực theo bậc thang của chúng.

            Thông thường, các giá trị được đánh giá là hợp chuẩn hay lệch chuẩn. Hợp chuẩn trong trường hợp các sản phẩm văn hoá hay ứng xử phù hợp với những tiêu chuẩn được xã hội, cộng đồng thừa nhận một cách tự nguyện, còn lệch chuẩn khi những hoạt động không theo khuôn phép được định sẵn và có hai tình huống: vì chuẩn cũ đã lỗi thời trở thành lực cản của sự cách tân, do đó, người sàng tạo phải phá khung để phù hợp với yêu cầu cuộc sống đã thay đổi; hoặc là những hoạt động sai trái, tiêu cức vi phạm những quy ước xã hội cần phê phán. Trong tình hình phức tạp hơn, cao hơn sự lêch chuẩn là sự loạn chuẩn khi các chuẩn mực văn háo đang rơi vao tình trạng hoặc bị coi thương hoặc cộng đồng lúng túng, rơi vào khủng hoảng khi xã hội đang chuyển động phức tạp nhanh chóng hoặc do cấp lãnh đạo, quản lý xã hội thiếu năng lực cần thiết tổ chức việc đúc kết xây dựng và thiếu năng lực chỉ đạo thực tiễn thực hiện các chuẩn mực mới khi xã hội đang biến đổi. Phải chăng, trong thực tiễn, hiện nay,chúng ta đang có biểu hiện rơi vào các biểu hiện trên?

            Như vậy, điều quan trọng hàng đầu phải là giáo dục cho quần chúng, cộng đồng nhận thức được những giá trị và chuẩn mực để họ tự định hướng, tự điều chỉnh mọi hành vi và ứng xử một cách tự giác. Đạt được kết quả đó chính là tạo ra sức mạnh nội sinh to lớn, sấu sắc của cộng đồng, của dân tộc. Trong mỗi nền văn hoá thường có hệ thống chuẩn mực cùng phát huy tác dụng dan kết các hoạt động văn hoá của con người. Đó là hệ thống các chuẩn mực trong lao động. trong giao tiếp, trong đảng phái, tín ngưỡng, tôn giáo, trong giới tính, tuổi tác và các nghề nghiệp khác nhau... Các hệ thống chuẩn mực này bao chứa những định chuẩn quy định tính thông tin, tính kiểm soát trong các lĩnh vực cơ bản của đời sống tinh thần của xã hội, tạo thành các chuẩn mực về đạo đức, pháp luật, trí tuệ, nghề nghiệp, thẩm mỹ ... các chuẩn mực này mang tính quy định, tính điều chỉnh và cả tính cấm đoán. Như vậy, với tư cách là thành tố văn hoá của xã hội, các chuẩn mực đề ra những nguyên tắc đan kết ở chiều sâu trong xã hội, tạo nên những định hướng cho mọi quan hệ văn hoá, giữ gìn và phát triển bản sắc dân tộc, tạo ràng buộc các thế hệ, trực tiếp góp phần tạo nên sự cố kết tự nguyện của cộng đồng, của dân tộc. Và đó chính là sức mạnh nội sinh của dân tộc. Một ví dụ cụ thể: Lòng yêu nước là một chuẩn mực sâu sắc, nổi bật nhất của dân tộc ta, điều đó dễ nhận rõ, chuẩn mực đó đã được thể hiện sinh động,  đậm đăc qua sự kiện "Biển Đông" thời gian qua.

            Những phân tích trên đây nhằm làm rõ về mặt khoa học, vì sao văn hoá là sức mạnh nội sinh của dân tộc, của sự phát triển bền vững. Tuy vậy các phân tích trên dựa trên văn hoá bản địa, văn hóa do chính dân tộc ta tạo ra. Song, văn hoá Việt Nam không chỉ là văn hoá bản địa, mà trong toàn bộ lịch sử của mình, chúng ta luôn tiếp xúc, giao lưu, đấu tranh, tiếp nhận, chọn lọc văn hoá từ bên ngoài vào. Ở đây,có hai vấn đề mà chúng ta phải thường xuyên tìm các xử lý: chống sự đồng hoá, xâm lăng văn hoá và biến các nguồn lực nội sinh của dân tộc, có lợi cho dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp của dân tộc trong tiến trình lịch sử.

            2. Chuyển hoá nguồn lực ngoại sinh về văn hoá thành sức mạnh nội sinh, làm giàu có và phong phú sức mạnh ấy của dân tộc - quy luật "Việt hoá" những tư tưởng, lý luận, văn hoá của bên ngoài.

            "Việt hoá" những lý luận, tư tưởng của bên ngoài,có lẽ, là một trong những quy luật đặc điểm bao trùm, xuyên suốt trong lịch sử của dân tộc ta. và, phải luôn luôn dựa trên cái gốc Việt, cái hồn Việt để thực hiện "Việt hoá". Cuộc đời và tư tưởng Hồ Chí Minh là một minh chứng tiêu biểu nhất, điển hình và sáng ngời nhất về quá trình và thành tựu độc đáo của sự Việt hoá.

            Những đặc điểm, điều kiện của Việt Nam dẫn tới nhu cầu Việt hoá và tạo ra khả năng, năng lực Việt hoá của con người Việt Nam

            - Lãnh thổ Việt Nam có một đặc điểm, một lợi thế là vùng địa - chính trị, địa - kinh tế và địa - văn hoá, ở đó có sự giao thoa, thâm nhập lẫn nhau giữa các nền văn hoá.

Việt Nam là vùng giao thoa về nhiều mặt, trước hết, là văn hoá Đông Nam Á với văn hoá Đông Á.

            Trong một giai đoạn lịch sử dài, là sự giao thoa của văn hoá Trung Quốc và văn hoá Ấn Độ

            Từ thời kỳ Cận đại xuất hiện và phát triển sự giao lưu, tác động lẫn nhau giữa văn hoá Châu Á với văn hóa Châu Âu, hay nói cách khác là, từ thời kỳ Cận đại, ở Việt Nam, có sự gặp nhau, tác động lẫn nhau, vừa như sự "đối chọi", lại vừa như sự "hấp dẫn " lẫn nhau giữa văn hoá Đông phương và văn hoá Tây phương.

            - Trong quá trình xâm nhập của văn hoá nước ngoài vào Việt Nam,thương diễn một đặc điểm - tính trội của văn hoá nước ngoài có khuynh hướng lấn áp văn hoá bản địa Việt.

            Một thời gian dài hàng chục thế kỷ trong quá khứ, văn hoá phương Bắc chi phối mạnh và ý đồ "đồng hoá" dân tộc Việt Nam của các thế lực xâm lược, đô hộ không bao giờ thay đổi.

            Văn hoá phương tây (trước hết là Pháp) xâm nhập ồ ạt, mạnh mẽ, liên tục vào Việt Nam, làm biến đổi sâu sắc văn hoá bản địa, xâm lăng không chỉ về đất đai, nền độc lập, kinh tế, mà cả xâm lăng văn hoá.

            Văn hoá Mỹ thời kỳ chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam là công cụ góp phần thực hiện ý đồ xâm lược

             - Sức đề kháng và năng lực tiếp nhận, chọn lọc, vận dụng và sáng tạo của con người Việt Nam tròng những điều kiện lịch sử trên.

            Cái gốc Việt, hồn Việt và sức mạnh nội sinh của văn hoá bản địa là căn nguyên sâu xa để chúng ta trụ vững, phát triển, không bị đồng hoá mà còn có năng lực đặc biệt: Việt hoá những lý luận,tư tưởng, văn hoá đến từ bên ngoài.

             Chính từ đặc điểm này mà ngày từ đầu và trong toàn bộ quá trình phát triển của mình, văn hoá Việt Nam (Theo nghĩa rộng) đã trưởng thành và tạo nên những giá trị độc đáo của dân tộc mình dựa trên một năng lực rất đặc biệt,đó là vừa tự nuôi dưỡng và phát huy những giá trị của mình chính - văn hoá bản địa - vừa biết tiếp nhận, chọn lọc những giá trị tốt đẹp của nhiều nền văn hoá khác. Do vậy, từ nhiều nguồn của văn hoá Việt tạo nên sự đa dạng của nó nhưng bao giờ cũng hội tụ trong sự thống nhất, vì đó là một nền văn hoá biết tiếp nhận và làm phong phú cho mình bằng những giá trị của nhiều nền văn hoá thế giới,cả Đông và Tây, cả gần và xa...

            Trong quá trình giao lưu, giao thoa đó, chỉ có những giá trị tư tưởng, lý luận,văn hoá bên ngoài nào phù hợp với nhu cầu phát triển  của Việt Nam đước chọn lọc và được Việt hoá mới có thể trở thành những thành tố hữu cơ cấu thành tư tưởng và văn hoá Việt Nam diễn ra không ngừng, thầm lặng và cực kỳ tình tế trong tiến trình lịch sử và tiến trình văn hoá nước nhà.

            Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã khảng định nhu cầu trên. Người cho rằng: "Phương Đông hay Phương Tây có cái gì hay,có cái gì tốt là phải học lấy để tạo ra nền văn hoá Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hoá xưa và văn hoá nay, trau dồi cho văn hoá Việt Nam thật có tinh thần thuần tuý Việt Nam" Luận điểm trên đây là sự tổng kết cực kỳ sâu sắc một quy luật, một đặc điểm của toàn bộ quá trình hình thành, phát triển và tự khẳng định của hệ thống tư tưởng lý luận và văn hoá Việt Nam, đồng thời cũng chính là nhu cầu tất yếu, nội tại đảm bảo cho sự phát triển của văn hoá Việt Nam trong tương lai.

            Việt hoá là gì:

            - Có thể hiểu nội hàm của khái niệm Việt hoá bao gồm các cấp độ sau:

            Thứ nhất sự tiếp xúc và tiếp nhận các thành tựu, những tinh hoa gía trị, các quan điểm trong hệ thống lý luận, tư tưởng và văn hoá bên ngoài (nước ngoài), trực tiếp hay gián tiếp. Cấp độ này diễn ra thường xuyên trong tíên trình lịch sử, làm giàu có cho văn hoá Việt bởi những tinh hoa và thành tựu của văn hoá thế giới;

            Thứ hai sự lựa chọn (chọn lọc) những gì phù hợp với thực tiễn Việt Nam và đáp ứng nhu cầu Việt Nam trong quá trình tiếp nhận trên;

            Thứ ba, sự vận dụng những gì đã chọn lọc vào đời sống Việt Nam;

            Thứ tư, sự chuyển hoá thành của Việt Nam những gì đã chọn, vận dụng và được thực tiễn Việt Nam chấp nhận, trở thành tư tưởng, lý luận, sản phẩm Việt Nam trên các lĩnh vực của đời sống xã hội;

            Thứ năm, lựa chọn cách diễn đạt phù hợp với tư duy, tâm lý, tình cảm, truyền thống, tập quán Việt Nam.

            Chúng ta có thể tìm và phân tích vô vàn các đãn chứng sinh động , cụ thể, đầy sức thuyết phục để khẳng định cho quá trình Việt hoá trên ở rất nhiều lĩnh vực khác nhau

            - Những thành tựu Việt hoá và hạn chế trong lịch sử dân tộc: phân tích những thành tựu đó qua các thời kỳ từ thời dựng nước đến nay, đặc biệt chú ý:

            Một là, Việt hoá những tư tưởng, lý luận và văn hoá Trung Quốc qua các thời kỳ;

            Hai là, Việt hoá tư tường, văn hoá Ấn Độ;

            Ba là, Việt hoá tư tưởng, văn hoá phương Tây (đặc biệt là Pháp);

            Bốn là, đồng thời cần chỉ ra những hạn chế lịch sử trong quá trình Việt hoá đó như thiếu tính hệ thống, chắp vá, máy móc, bắt chước trong một số trường hợp và lĩnh vực cụ thể.

            Hồ Chí Minh - Tấm gương sáng ngời và độc đáo, một tài năng đặc biệt trong việc thực hiện Việt hoá những tư tưởng lớn của thế giới để tạo nên một hệ giá trị tư tưởng, văn hoá Việt Nam trong thời kỳ hiện đại

            - Cuộc đời sự nghiệp Hồ Chí Minh, bắt đầu từ thuở ấu thơ. đến 30 năm bôn ba khắp năm châu, bốn biển là cả một quá trình vĩ đại tích luỹ, tiếp nhận, làm giàu co cho mình những tri thức lớn, sâu sắc, phong phú của thế giới;

            + Thời thơ ấu, thiếu niên: tiếp xúc với văn hoá gốc Việt quê nhà, tiếp nhận những tri thức của nho học;

            + Bắt đầu tiếp xúc, tiếp nhận và xuất hiện nhu cầu phân tích, đánh giá để nhận biết bản chất của văn hoá Pháp, (thời kỳ ở Quốc học Huế);

            + Mục tiêu ra nước ngoài để học cái hay của người, tìm chân lý, cái có ích cho dân tộc, cho đồng bào, từ đó tìm đường xác định con đường cứu nước, cứu dân tộc;

            + Những tri thức khổng lồ, sâu sắc,vô cùng phong phú trên hầu hết các lĩnh vực quan trọng của xã hội được Nguyễn Ái Quốc tích luỹ trong suốt 30 năm bôn ba ở nước ngoài.

            Vận dụng trịêt để và sáng tạo luận điểm "Văn hoá là sức mạnh nội sinh quan trọng của dân tộc, của sự phát triển bền vững" sẽ giúp chúng ta soi sáng tất cả các vấn đề  trong thực tiễn và là cửa đột phá để tạo ra những thành tựu mới, những giá trị mới của không chỉ văn hoá dân tộc thời kỳ hiện đại mà còn của chính sự phát triển mạnh mẽ và bền vững của Tổ quốc chúng ta những năm sắp tới.

GS.TS Đinh Xuân Dũng


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 605
Đã truy cập: 3022986