Những trận đánh bạt vía quân xâm lược phương Bắc

13/05/2014 15:00
 Từ trong lịch sử, Việt Nam chưa từng lùi bước trước kẻ thù xâm lược. Một khi giới hạn đã vượt qua thì cha ông ta dưới mọi hình thức đã đánh bại mọi âm mưu thôn tính của địch, bảo toàn lãnh thổ và giữ vững chủ quyền đất nước.

 Từ trận Như Nguyệt (1077) đến chiến thắng Xương Giang (1427) là hai chiến thắng mà nhân dân ta vô cùng anh dũng đánh đuổi quân xâm lược phương Bắc, đều gắn với vùng đất phía bắc Kinh thành Thăng Long, viết nên những trang sử chói lọi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ non sông đất nước.

Trận Như Nguyệt (1077) – Lý Thường Kiệt phạt Tống

Như Nguyệt là tên của một bến đò và là tên chung của một đoạn sông Cầu. Nhắc đến sông Cầu hẳn ai cũng nhớ đến trận đánh nổi tiếng của quân đội nhà Lý dưới sự chỉ huy của danh tướng Lý Thường Kiệt. Dòng sông có chiều dài 290km bắt nguồn từ núi Văn Ôn, chảy qua biết bao làng mạc, dòng sông đã nuôi nấng bao thế hệ để rồi khi chảy đến ngã ba Xà, nơi hợp lưu của sông Cà Lồ chảy vào sông Cầu, dòng sông là minh chứng duy nhất để kể lại cho muôn đời về trận đánh hào hùng, về phòng tuyến trên sông Như Nguyệt, nơi đánh đuổi 10 vạn quân bắc Tống.

Trận Như Nguyệt là một trận đánh lớn, mang tính quyết định của cuộc Chiến tranh Tống – Việt (1075 – 1077), và là trận đánh cuối cùng của triều Tống – Trung Quốc trên đất Đại Việt. Trận chiến diễn ra trong nhiều tháng, kết thúc bằng chiến thắng vẻ vang của quân Đại Việt và đại bại của quân Tống, đánh bại hoàn toàn mưu đồ xâm lược nước ta của giặc, buộc chúng phải thừa nhận Đại Việt.

Lý Thường Kiệt bàn việc quân với vua nhà Lý

Bối cảnh

Nhà Tống, Trung Quốc vào thế kỷ 11 có ý định xâm lược Đại Việt để mở rộng lãnh thổ, nhằm giải quyết một số khó khăn về đối nội và đối ngoại. Nhà Lý sớm nhận ra ý định này của nhà Tống nên đã thực hiện một chiến dịch đánh đòn phủ đầu vào cuối năm 1075 đầu năm 1076, phá hủy các căn cứ hậu cần chuẩn bị cho chiến tranh của nhà Tống. Nhưng Nhà Tống vẫn quyết tâm tiến hành chiến tranh, vua Tống Thần Tông cử Quách Quỳ chỉ huy chuẩn bị đánh Đại Việt.

Lý Thường Kiêt đánh phủ đầu quân Tống bên kia biên giới

Trước binh lực mạnh của nhà Tống, Lý Thường Kiệt quyết định chọn chiến lược phòng thủ: ông dùng các đội quân của đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi phía bắc nhằm quấy rối hàng ngũ của quân Tống. Các tướng Lưu Kỹ, phò mã Thân Cảnh Phúc, Vi Thủ An đem quân chặn bước tiến quân Tống ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, đồng thời chặn thủy quân của nhà Tống từ Quảng Đông xuống… Lý Thường Kiệt lui quân về phía nam Sông Cầu. Lý Thường Kiệt đã huy động binh lính và nhân dân xây dựng một phòng tuyến trên sông Như Nguyệt để biến nơi đây là nơi diễn ra trận đánh quyết định của cả cuộc chiến.

Tương quan lực lượng

Quân Tống huy động khoảng 100.000 quân chiến đấu, 10.000 ngựa, 200.000 dân phu, đồng thời có sự hỗ trợ từ lực lượng thủy binh. Chỉ huy là Quách Quỳ và phó chỉ huy là Triệu Tiết cùng với nhiều tướng khác được điều về từ miền bắc Tống.

Bộ phận quân chủ lực của nhà Lý gồm thủy binh và bộ binh phòng thủ và chiến đấu tại sông Như Nguyệt có 60.000 quân và một số lực lượng không tham gia trực tiếp vào trận đánh dùng để hãm chân và quấy rối tiếp vận phía sau khoảng trên 15.000 quân.

Chiến trường

Đoạn sông Như Nguyệt mà Lý Thường Kiệt chọn lựa xây dựng phòng tuyến có vị trí mang tính chiến lược: con sông chặn mọi đường trên bộ có thể dùng để tiến quân vào Thăng Long. Vì địa thế quan trọng này, Lý Thường Kiệt quyết định lập một phòng tuyến tại đây nhằm đánh một trận chiến lược.

Nhân dân đóng cọc tre ngăn quân thù trên sông Như Nguyệt

Chiến lũy của phòng tuyến được xây dựng bằng đất có đóng cọc tre dày mấy tầng làm dậu. Dưới bãi sông được bố trí các hố chông ngầm tạo thành một phòng tuyến rất vững chắc. Quân của nhà Lý đóng thành từng trại trên suốt chiến tuyến, mà quan trọng nhất là ba trại ở Như Nguyệt, Thị Cầu, Phấn Động. Quân chủ lực do chính Lý Thường Kiệt chỉ huy đóng ở phủ Thiên Đức, một vị trí có thể cơ động chi viện nhiều hướng và khống chế mọi ngả đường tiến về Thăng Long.

Nơi Lý Thường Kiện chọn quyết chiến với quân xâm lược

Nam quốc sơn hà, bài thơ thường được cho là của Lý Thường Kiệt sáng tác nhằm cổ vũ động viên tinh thần chiến đấu cho binh sĩ mình trong trận chiến này.

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định mệnh tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”

Quân Tống tấn công

Quân Tống dưới sự chỉ huy của Quách Quỳ tiến tới bờ bắc sông Như Nguyệt thực hiện chiến lược đánh nhanh thắng nhanh mà vua Tống đã đề ra. Quách Quỳ không hề biết rằng cánh thủy quân do Dương Tùng Tiên chỉ huy đã bị thủy quân Đại Việt do Lý Kế Nguyên chỉ huy đã chặn đánh quyết liệt, liên tục tập kích hơn 10 trận. Đặc biệt với thảm bại tại sông Đông Kênh, thủy quân Tống buộc phải rút lui.

Sau một khoảng thời gian chờ đợi không thấy thủy quân đến hội sư, Quách Quỳ tổ chức vượt sông mà không có sự hỗ trợ của thủy quân. Tuy nhiên vì trước trại của Quách Quỳ tại Thị Cầu có một trại quân mạnh của nhà Lý án ngữ nên không dám cho quân vượt sông ở Thị Cầu. Cùng lúc, tướng Miêu Lý đóng tại Như Nguyệt báo với Quách Quỳ rằng quân Lý đã trốn đi và xin lệnh đem binh vượt sông. Trúng kế nhà Lý, Quách Quỳ chấp nhận và tướng Vương Tiến bắc cầu phao cho đội xung kích của Miêu Lý vượt sông. Miêu Lý định tiến nhanh về Thăng Long nhưng đến vùng Yên Phụ, Thụy Lôi thì bị nhà Lý phục kích, bao vây, và chặn đánh dữ dội và bị diệt gần hết. Thất bại của Miêu Lý đã làm cho Quách Quỳ hết sức tức giận.

Quân Tống gặp phải sự kháng cự quyết liệt từ quân dân nhà Lý

Sau thất bại này, Quách Quỳ nhận ra quân nhà Lý không bỏ bất cứ đoạn nào trên phòng tuyến, nên không dám vượt sông mà không có thủy binh. Vì thủy binh quân Tống đã bị chặn lại ngoài biển nên không tiến vào được, buộc Quách Quỳ phải tổ chức đợt tấn công lần hai. Lần này, quân Tống dùng một lực lượng mạnh hơn nhiều so với lần trước và đóng bè lớn để vượt sông. Quân Tống ồ ạt đổ sang bờ Nam nhưng họ vấp phải các đợt phải công mãnh liệt của quân nhà Lý, số binh tiếp viện lại không qua sông kịp nên quân bị vỡ trận và thiệt hại nặng nề phá sản ý định đánh nhanh thắng nhanh của nhà Tống.

Quân nhà Lý phản công

Nhận thấy quân Tống lâm vào tình cảnh tiến thoái lưỡng nan, ngày càng hoang mang vì tin tức chờ mãi thủy binh không thấy đâu, nhưng lại không dám rút lui vì đó là một sự nhục nhã và tội lớn với triều đình nhà Tống. Quân Tống vẫn còn mạnh, cố thủ ở bờ bắc Như Nguyệt. Lý Thường Kiệt nhận ra đây là thời cơ tốt để tổ chức tiến công, ông nghiên cứu cách bố phòng của quân Tống và tổ chức các đợt tấn công theo kiểu tập kích chia cắt quân Tống.

Trận Như Nguyệt (1077): diệt quân Tống xâm lược trên phòng tuyến sông Cầu do Lý Thường Kiệt chỉ huy, kết thúc cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ 2.

Quân nhà Lý phản công diệt quân Tống xâm lược trên phòng tuyến sông Cầu do Lý Thường Kiệt chỉ huy

Đầu tiên, ông mở một đợt tấn công vào quân của Quách Quỳ đang đóng ở Thị Cầu nhằm kéo sự chú ý của toàn bộ quân Tống về hướng này dù biết rằng Quách Quỳ có một khối quân khá lớn và bố phòng rất cẩn thận. Ông lệnh cho hai tướng Hoằng Chân và Chiêu Văn dùng 400 chiếc thuyền chở khoảng 2 vạn quân từ Vạn Xuân tiến lên Như Nguyệt. Đoàn thuyền vừa đi vừa phô trương thanh thế nhằm kéo sự chú ý của toàn bộ quân Tống về hướng họ.

Quân nhà Lý đổ quân lên bờ bắc tấn công thẳng vào doanh trại quân Tống và chiếm ưu thế, đẩy quân Tống vào sâu, buộc quân Tống phải huy động hết lực lượng và đem cả đội thân quân ra đánh. Tất cả các thuộc tướng cao cấp của Quách Quỳ như Yên Đạt, Trương Thế Cự, Vương Mẫn, Lý Tường, Diên Chủng đều có mặt trong chiến địa. Khi mọi sự chú ý của quân Tống đều đổ dồn về phía trại quân Quách Quỳ, thì Lý Thường Kiệt đích thân dẫn đại quân đánh vào doanh trại của Triệu Tiết.

Triệu Tiết đóng tại bắc Như Nguyệt trên một khu vực tương đối rộng và quang đãng, bố trí theo kiểu dã chiến không lũy tường tổ chức phòng ngự tạm. Đại quân của Lý Thường Kiệt tập kích, quân của Triệu Tiết nhanh chóng bị đánh bại, thương vong trên một nửa quân số đến gần hết. Số quân Tống chết nằm la liệt.

Kết quả

Hai đợt tấn công này đã khiến quân Tống đại bại. Quân Tống mất tổng cộng 8 vạn quân và 8 vạn phu. Toàn bộ chi phí chiến tranh ngốn mất 5.190.000 lạng vàng. Thất bại này đã làm cho nhà Tống mất hẳn ý chí xâm lược Đại Việt.

Lý Thường Kiệt

Đây là chiến thắng lớn nhất và là trận chiến ác liệt nhất kể từ sau trận Bạch Đằng năm 938 của dân tộc Việt trong việc chống phương Bắc xâm lược. Chiến thắng này đã đánh dấu sự thành công nhiều chiến thuật chiến tranh phòng thủ và chủ động tấn công của danh tướng Lý Thường Kiệt trước một nước lớn hơn nhiều lần.

Trận Xương Giang – bạt vía quân thù

Gần 400 năm sau chiến thắng trên dòng sông Như Nguyệt, kẻ xâm lược phương bắc (lúc này là nhà Minh) lại phải nhận lấy một thất bại nặng nề ở Xương Giang (vùng nam huyện Lạng Giang và thị xã Bắc Giang hiện nay). Chiến thắng lịch sử năm 1427 ghi thêm một mốc son chói lọi trong lịch sử Đại Việt. Tầm vóc vĩ đại của đại thắng Xương Giang hạ thành diệt viện đã làm ngỡ ngàng những nhà viết sử mọi thời đại.

Thành Xương Giang do nhà Minh lập ra năm 1420, nằm trên huyết mạch nối Lưỡng Quảng với Đông Quan – Hà Nội. Quân Minh muốn án ngữ phía Bắc nhằm viện binh khi cần và làm một điểm chốt bảo vệ thành Đông Quan – Hà Nội. Xương Giang nguyên là một quân thành với chiều cao 4 – 5 mét, bề dày có nơi cả chục mét.

Bình Định Vương Lê Lợi đứng lên tụ nghĩa ở Lam Sơn. Mùa xuân năm 1427, nghĩa quân Lam Sơn tiến ra Bắc, giặc Minh ở Đông Đô nguy cấp, nhà Minh cho 10 vạn quân kéo sang tiếp viện.

Thành Xương Giang xưa

Thành Xương Giang xưa

Nghĩa quân Lam Sơn quyết tâm hạ thành Xương Giang bằng mọi giá trước khi quân cứu viện của địch tới. Lê Lợi, Nguyễn Trãi cho quân chặn đánh viện binh dọc tuyến Chi Lăng – Xương Giang và mở chiến dịch hạ các thành luỹ nơi sào huyệt của quân xâm lược.

Diệt thành Xương Giang

Bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn đã dự kiến trước việc quân địch tiến xuống Xương Giang và đã nghiên cứu, chuẩn bị sẵn một thế trận bao vây tiêu diệt chúng ở vùng này.

Dòng sông Thương từ Chi Lăng, Hữu Lũng chảy về bao bọc cả ba mặt: tây – bắc, tây và tây – nam Xương Giang. Đoạn sông Thương này còn có tên là sông Xương Giang. Quân ta đã “lập hàng rào ở bờ bên tả sông Xương Giang”.

Xương Giang năm 1427

Quân thủy bộ của ta lợi dụng đoạn sông Thương này để bố trí bao vây địch ở mặt tây. Một bộ phận quân bộ chiếm lĩnh những điểm cao bên tả ngạn sông Thương lập thành những trại quân. Di tích của những trại quân đó vẫn còn được bảo lưu qua các tên đất như đồi Vương ở làng Hương Mãn (hay làng Hạ), đồi Tướng ở xóm Chùa, đồi Phục ở làng Gai (hay làng Phúc Cai) thuộc xã Xuân Hương ngày nay.

Mặt bắc, hai đạo quân của Lê Sát, Lưu Nhân Chú và Lê Lý, Lê Văn An, sau trận Phố Cát cũng tiến xuống, hình thành thế bao vây, ép chặt địch.

Bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn bố trí lực lượng bịt kín các ngả đường về Quảng Tây và vào Đông Quan. Các cửa ải Chi Lăng, Pha Lũy và Bàng Quan (Chũ, Lục Nam, Bắc Giang) đều bị quân ta khóa chặt.

Tướng Trần Nguyên Hãn được lệnh chia quân đóng giữ những nơi yếu hại, ngăn chặn mọi đường tiếp tế lương thực của địch. Ở mặt nam, tướng Trần Lựu, sau những trận đánh nhử địch nổi tiếng từ Pha Lũy đến Chi Lăng và sau trận Chi Lăng, Cần Trạm, được lệnh rút về trấn giữ thành Thị Cầu (thị xã Bắc Ninh, Bắc Ninh).

Ở mặt đông nam, tướng Nguyễn Tuấn Thiện được lệnh đóng quân tại Bồng Lai (Gia Lương, Bắc Ninh) nhằm ngăn chặn sự liên lạc giữa quân địch tại Xương Giang và tại Chí Linh. Đồng thời dựa vào thế hiểm yếu của sông Lục Đầu, Nguyễn Tuấn Thiện xiết chặt vòng vây Chí Linh, cô lập quân Thôi Tụ, Hoàng Phúc (Theo thần tích Lê Thiện (tức Nguyễn Tuấn Thiện) tại đình làng Bồng Lai, Gia Lương, Bắc Ninh).

Quân địch đã hoàn toàn lọt vào vòng vây khép kín, dày dặc, nhiều tầng nhiều lớp quân thủy bộ của ta. Chúng dù đông cũng không thể nào thoát ra nổi, tiến không được mà lùi cũng không được.

Bộ chỉ huy nghĩa quân chủ trương vây hãm một thời gian cho chúng thật rã rời, kiệt sức. Nguyễn Trãi lại viết thư khuyên Thôi Tụ, Hoàng Phúc lui quân. Đồng thời, Nguyễn Trãi cũng cảnh cáo quân địch: “Các ông nếu còn dùng dằng lâu ngày, chứa lòng nghi ngờ, làm hỏng mưu kế, tôi sợ rằng các ông sẽ chết uổng vùi xương trong bụng cá ở Xương Giang, còn có ích gì đâu” .

Sau khi đã vây chặt số quân của Thôi Tụ, Hoàng Phúc và làm chủ chiến trường Xương Giang, bộ chỉ huy nghĩa quân lo tiêu diệt đạo quân Mộc Thạnh từ Vân Nam tiến vào vùng biên giới nước ta. Đúng như Lê Lợi đã nhận định, Mộc Thạnh không dám tiến sâu vào lãnh thổ nước ta mà đóng quân vùng biên giới để chờ đợi tin tức của đạo quân Liễu Thăng.

Bộ chỉ huy nghĩa quân đã ra lệnh cho các tướng giữ ải Lê Hoa. Các tướng Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả, Nguyễn Chích, Lê Trung, Nguyễn Khuyển đánh kiềm chế ngăn chặn không cho quân địch tiến sâu và chuẩn bị lực lượng, chiếm lĩnh sẵn những nơi yếu hại để chờ thời cơ phản công.

Sau khi Liễu Thăng bị giết, Bình Định Vương liền thả cho tên lính hầu cận Liễu Thăng đem giấy tờ và ấn tín của chủ tướng về báo cho Mộc Thạch biết.

Khi đạo quân viện binh của Liễu Thăng đã thất bại nặng nề, Lê Lợi liền sai một số tù binh trong đó có một tên chỉ huy, ba tên thiên hộ mang bằng sắc, ấn tín của Liễu Thăng và bức thư của Lê Lợi đến tận trại quân Mộc Thạnh, báo tin cho chúng biết. Bức thư kể lại chuyện Liễu Thăng ngoan cố không nghe lời khuyên bảo của nghĩa quân, không biết “đạo trời ưa sóng, lòng người ghét loạn, cậy vào đức thì tốt, cậy vào sức thì chết mà tự chuốc vạ vào thân”, nên “chết trong trận không biết lẫn lộn vào đâu”.

Mộc Thạnh nhận được thư, lại trông thấy ấn tín, bằng sắc của Liễu Thăng và nghe tin Lương Minh, Lý Khánh tử trận, vô cùng khiếp sợ.

Mộc Thạnh vội vàng đang đêm đem quân gấp rút tháo chạy về nước. Các tướng Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả, Nguyễn Chích, Lê Trung, Nguyễn Khuyển lập tức tung quân ra đánh đuổi diệt trên 1 vạn tên địch, bắt sống 1 nghìn tên và 1 nghìn ngựa, thu được rất nhiều chiến lợi phẩm gồm vũ khí, lương thực và vàng bạc. Sau khi đập tan đạo quân Mộc Thạnh, bộ chỉ huy nghĩa quân tập trung lực lượng giải quyết nốt số quân địch ở đây.

Vương Thông ở thành Đông Quan không dám ra đánh vì biết trước rằng không địch nổi nghĩa quân. Y muốn bãi binh kéo về Tàu nhưng còn e ngại. Giữa lúc đó thì Nguyễn Trãi viết dụ thư dụ y và quân sĩ ra hàng để được bảo toàn tính mạng.

Vòng vây ở Xương Giang càng ngày càng khép chặt, Nguyễn Trãi lại viết thư cho Thôi Tụ, Hoàng Phúc hết lời khuyên nhủ: “Tính việc ngày nay không gì bằng lui quân ra ngoài bờ cõi, tôi lập tức đem ngay các quân nhân đã bắt được ở các thành trả lại hết. Rồi đem thư của nước tôi và bản tâu nói rõ đầu đuôi tâu lên triều đình. May ra lời bàn của triều đình ưng cho, thì bọn các ông có thể không mất tiếng tốt, mà Nam, Bắc từ nay vô sự. Đó không những là sự may cho nước An Nam tôi, cũng là sự may lớn cho cả bàn dân thiên hạ”

Quân ta bắn tin dụ hàng vào trong thành

Lê Lợi-Nguyễn Trãi kiên trì dụ hàng, Nhưng quân địch vẫn tỏ ra ngoan cố. Đúng ngày 3 tháng 11 năm 1427, tức ngày 15 tháng 10 năm Đinh Mùi, quân dân ta được lệnh tổng công kích như đã định trước “hẹn đến giữa tháng 10 diệt giặc”.

Bình Định Vương bao vây và tấn công thành

Từ bốn mặt, hàng vạn quân ta nhất loạt mở những mũi tiến công quyết liệt vào các khu vực phòng ngự của địch. Bộ binh, tượng binh, kỵ binh của ta cùng phối hợp đột phá vào trung tâm doanh trại của địch. Quân ta vừa tiến công vừa kêu gọi quân địch đầu hàng. Quân ta lùa voi xông vào đánh và hô to: ai hàng thì không giết. Quân Minh hoặc bị bắn chết hoặc bỏ chạy. Toàn quân địch tan vỡ hết.

Trong trận đại thắng này, nghĩa quân bắt sống được Hoàng Phúc, Thôi Tụ cùng rất nhiều quân lính nhà Minh. Thôi Tụ không chịu hàng nên bị giết.

Quân địch đại bại. Kết quả là bọn tướng chỉ huy lớn nhỏ Thôi Tụ, Hoàng Phúc, Sử An, Trần Dung, … bị bắt cùng với mấy vạn quân giặc. Hơn 5 vạn quân địch bị giết chết. Một số chạy trốn, chỉ trong khoảng dăm bảy ngày đều bị dân ta – những người chăn trâu, hái củi bắt được đem nộp hết cho nghĩa quân. Hoàng Minh thực lục (tài liệu của nhà Minh) phải thú nhận toàn bộ quân Minh đều bị bắt và bị giết rất nhiều. Quân ta thu được rất nhiều ngựa, các loại vũ khí cùng với vàng bạc, vải lụa. Hàng loạt địa danh vùng Xương Giang và xung quanh như đồi Phục, đồi Cút, đồi Vương, đồi Tướng, bãi Bên, bãi Thiêu, bãi Cháy… như còn ghi lại chiến công oanh liệt của quân dân ta.

Kết quả

Chỉ trong vòng chưa đầy 1 tháng, đạo quân đông tới 10 vạn của quân Minh đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Bộ chỉ huy bị chết trận hay bị quân ta bắt gần hết. Toàn bộ lực lượng viện binh 1 vận quân của nhà Minh cũng đã bị đại bại.

Bình Định Vương cùng quân sư Nguyễn Trãi ra đón và ủy lạo đoàn quân chiến thắng.

Sau trận thắng lớn này, nghĩa quân trở lại thành Đông Quan. Bình Định Vương cùng quân sư Nguyễn Trãi ra đón và ủy lạo đoàn quân chiến thắng.

Với nghệ thuật dùng binh tài tình, độc đáo của Lãnh tụ Nghĩa quân, chúng ta đã làm nên một chiến thắng Xương Giang lịch sử, thất kinh, bạt vía quân thù.

Giặc Minh lầm lũi kéo bại quân về nước

Bình Định Vương trả lời nghĩa quân

Một số nghĩa quân khóc tâu với Bình Định Vương: “Giặc Minh tàn ác sao không giết hết đi mà để chúng yêu ổn trở về nước?”. Bình Định Vương trả lời: “Giết giặc Minh lúc này quá dễ nhưng sẽ gây thù oán rồi chiến tranh kéo dài mãi thì làm sao mà xây dựng lại được nước.?”

Có lẽ, thành công tại chiến thắng thành Xương Giang chỉ đứng sau sự kiện Lý Thường Kiệt hạ thành Ung Châu. Chiến thắng Xương Giang, đất nước được giải phóng, nền độc lập dân tộc được giữ vững.

Dẹp xong giặc Minh rồi, Bình Định Vương lại giao cho quân sư Nguyễn Trãi soạn tờ bá-cáo cho thiên hạ đều biết việc gian khổ trong 10 năm qua. Đó là bài hịch Bình Ngô Đại Cáo một áng văn chương hùng tráng, tuyệt tác sẽ còn truyền lại đến muôn đời… Bình Định Vương lên ngôi vua tức là vua Lê Thái Tổ và đặt tên nước là Đại Việt (1428).

Xử sự với lân bang như cha ông ta đã làm

Xử sự với lân bang như cha ông ta đã làm

Chiều dài lịch sử đất Việt là những chiến tích chống giặc ngoại xâm. Nhiều lần nước ta bị Bắc thuộc, nhưng rồi cũng giành được độc lập, tự chủ. Nhiều lần bị xâm lăng, nhưng rồi dân ta cũng đánh...
 

Ngày nay khu di tích Như Nguyệt Xương Giang là nơi lưu dấu, là bằng chứng lịch sử của hai trận chiến ác liệt (trận Như Nguyệt và chiến thắng Xương Giang) mà nhân dân ta đã đập tan đoàn quân xâm lược phương Bắc, dạy cho chúng những bài học xương máu, bảy gãy ý chí xâm lược của chúng.

Ngày 17/2/2013, Đại tướng Trần Đại Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an trồng cây lưu niệm tại khu di tích Như Nguyệt Xương Giang ở xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên, Bắc Giang là nơi mà nhân dân ta đã đập tan đoàn quân xâm lược phương Bắc. (Ảnh: Đặng Nam)

Khu di tích tồn tại đến ngày nay mang giá trị to lớn đối với lịch sử dân tộc, là bằng chứng trung thực phản ánh truyền thống lịch sử chống giặc ngoại xâm. Làm mọi cách để chiến tranh không xảy ra. Tập trung xây dựng đất nước phồn vinh, nhân dân no ấm. Nhưng nếu bị buộc phải đứng lên thì cũng sẵn sàng cùng muôn dân đứng lên đập tan mọi cuộc xâm lược, bẻ gãy mọi ý chí của kẻ thù, bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc như cha ông ta đã làm.


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 1086
Đã truy cập: 2021534